• SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH BẮC GIANG - Đ/C SỐ 74 Đ. NGUYỄN THỊ LƯU - P. NGÔ QUYỀN - TP. BẮC GIANG
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 2347743
  • Số người đang xem: 44
  • Trong ngày: 1174
  • Trong tuần: 7652
  • Trong tháng: 363601
  • Trong năm: 1995520
Trang chủ

Phải chăng tiếng hát Trương Chi là khởi nguồn tiếng hát Quan họ

( 23:19 | 04/11/2010 ) Bản để inGửi bài này qua Email

Ngô Văn Trụ

 

Năm 1978, tác giả Đặng Văn Lung tập hợp được 17 truyền thuyết về nguồn gốc sinh ra hát Quan họ. Trong đó, có tiếng hát Trương Chi được kể tóm tắt như sau: “Anh Trương Chi người thì thậm xấu, hát thì thậm hay, là một người dân chài trên dòng Tiêu Tương và sông Cầu. Mỵ Nương là con nhà quan mê giọng  hát  của Trương Chi, còn Trương Chi thì tương tư Mỵ Nương về nhan sắc. Anh lái đò đặt ra những câu hát tương tư mong nhớ, những câu hát đó truyền đến ngày nay thành Quan họ”. Năm 2000 tác giả Lê Danh Khiêm cũng nói nhiều trong giai thoại về nguồn gốc Quan họ có truyện Trương Chi - Mỵ Nương và cho biết: “sau khi Trương Chi chết, Mỵ Nương nhớ tiếng hát của chàng bèn cho lập các nhóm hát dân gian trong vùng, tiếng hát ấy về sau gọi là quan họ”. Còn trong các bài ca Quan họ có câu:

Ngày xưa có anh Trương Chi

Người thì thậm xấu, hát thì thậm hay

Cô Mỵ nương vốn ở lầu tây

Con quan Thừa tướng ngày rày cấm cung

Trương Chi có chiếc thuyền chài

Chào thuyền ngang dọc hôm mai dãi dầu

Trương Chi mới hát một câu

Gió đưa phảng phất tới lầu Mỵ Nương

Mỵ Nương nghe hát thì thương

Nhưng chông thấy mặt anh chường lại chê

Trương Chi buồn bã ra về

Cắm sào giữa bến hát thề một câu

Kiếp này đã dở dang nhau

Có sang kiếp khác lấy nhau cũng không thành.

Chúng ta cũng biết rằng khoảng giữa thế kỷ trước, truyện thơ Nôm Trương Chi cùng các truyện thơ nôm khác khá phổ biến trong dân gian. Và truyện thơ nôm thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19 đã được sử dụng trong lời ca Quan họ mà các nghệ nhân vẫn thường ca hát. Đến năm 2004, tại Hội thảo về Hội Lim đã có vài ý kiến nhắc đến tiếng hát Trương Chi và đặt câu hỏi: Phải chăng tiếng hát Trương Chi là khởi nguồn tiếng hát Quan họ?.

Trên thực tế không có bằng chứng cụ thể nào khẳng định tiếng hát Quan họ ngày nay là tiếng hát Trương Chi mà ra theo như truyền thuyết do tác giả Đặng Văn Lung và Lê Danh Khiêm sưu tầm, giới thiệu. Có thể người ta thấy câu chuyện ca ngợi tiếng hát Trương Chi đến mức Mỵ Nương mê say và nếu lâu lâu không được nghe thì sinh ra ốm, âu sầu, tương tư… bèn liên tưởng tới tiếng hát Quan họ là say đắm lòng người, thu hút các nghệ nhân già, trẻ đến lạ lùng trong vùng quan họ. Sự liên tưởng đó không có cơ sở khoa học. Nếu theo truyền thuyết của Lê danh Khiêm giới thiệu thì người ta rất có thể lại suy rằng: tiếng hát Quan họ vốn là của người lao động (Trương Chi) song nhờ nhà quan (Mỵ Nương, nhất là có dị bản Mỵ Nương xin với cha cho lập các nhóm hát) tổ chức mới thành dân ca lưu truyền về sau được và thưở ban đầu nhóm hát ấy chỉ làm thỏa mãn nhu cầu riêng của Mỵ Nương thôi. Dường như các nhà sưu tầm nghiên cứu mới ghi chép lại lời kể của dân gian và ghi nhận đó là tryền thuyết hay giai thoại mà chưa có sự nhận định đánh giá. Truyền thuyết co thể là vô cùng. Cứ xem năm 1978, tác giả Đặng Văn Lung chỉ ghi truyền thuyết Vua Bà ở làng Diềm sinh ra quan họ, thì năm 2006 tác giả Trần Thị An có tới 6 dị bản về truyền thuyết nhân vật Vua Bà. Vật biết tin theo truyền thuyết nào, hay truyền thuyết nào có sơ sở tin cậy hơn cả nếu không dựa vào đồ thờ, bài vị, hoành phi, câu đối, hướng đền, tục lệ ở đền Vua Bà.

Thực ra cũng có ý kiến không tin vào truyền thuyết tiếng hát Quan họ bắt nguồn từ tiếng hát Trương Chi. Song, lý giải câu chuyện Trương Chi - Mỵ Nương thì có nhiều ý kiến khác nhau. Sự thực là trong kho tàng truyện dân gian, ca dao, dân ca… của Việt Nam, có một số tác phẩm không dễ gì phân tích, lý giải, truyện Chương Tri là một ví dụ.

Ngay năm 1978 trong một bài nghiên cứu, tác giả Quang Lộc đã viết: “Truyền nhau về câu chuyện tình dang dở đó, người quan họ bảo rằng: Chính những câu hát của anh lái đò và đánh cá năm xưa ấy đã được truyền đến ngày nay thành Quan họ”!. Hẳn là những người nghiên cứu không thể tin câu chuyện tình trên là có thực, càng khó chấp nhận tiếng hát của anh chàng họ Trương là nguồn gốc của dân ca quan họ. Và tác giả Quang Lộc cho rằng cha con Mỵ Nương là đại diện cho tầng lớp cư dân ở đồng bằng ven sông, còn Trương Chi là đại diện cho lớp dân cư làm nghề chài lưới gắn liền với sông nước. Mối tình dang dở dẫn đến kết cục bi thảm của hai người là biểu tượng phản ánh thực tế lịch sử xã hội vùng Tiên Sơn xưa là: hai lớp cư dân trên hợp cư với nhau trong buổi đầu chiếm lĩnh miền đất này, diễn ra trong tình hình vừa mâu thuẫn vừa thống nhất. Tác giả đã phân tích chứng minh qua di tích khảo cổ trên địa bàn cách đây 3000 năm những cư dân từ miền ven biển ngược lên gặp nhau nhưng cuối cùng đã thống nhất, xây dựng vùng Tiên Sơn giàu về kinh tế, đẹp về văn hóa. Tác giả còn dự đoán có dấu vết rừng sậy nơi Trương chi đến lấy trúc về làm sáo thổi theo truyền thuyết là điều rất đáng chú ý. Như vậy tác giả Quang Lộc đã cho các nhân vật của truyện là biểu tượng lịch sử vào thời kỳ xưa. Liệu truyền thuyết Trương Chi - Mỵ Nương có được đưa vào hệ thống các truyền thuyết thời thượng cổ Hùng Vương không?.

Nhớ lại một thời phân tích tác phẩm văn học người ta hay quy kết thành phần giai cấp máy móc, ví dụ như quy kết thành phần giai câp cho các nhân vật trong truyện Kiều của Nguyễn Du. Và có người quy kết Trương Chi với Mỵ Nương không môn đăng hộ đối, Trương Chi không biết thân phận nghèo hèn của mình, “đũa mốc lại chòi mâm son”! Mỵ Nương tương tư tiếng hát chàng Trương nhưng thực không thể chấp nhận địa vị xã hội của chàng mà đổ lỗi cho chàng xấu xí quá. “Người đẹp vì lụa” thì dù xấu, đen đủi thế nào vẫn có thể đắp điếm cho dễ coi được nên căn bản vẫn là địa vị xã hội khiến Mỵ Nương không thể tiếp đón, chào hỏi, gặp gỡ Trương Chi. Nàng là con quan Thừa tướng, sống nơi nhung lụa, lầu son gác tía, sắc nước hương trời, so với anh chàng chài lưới quả là một trời một vực. Vì thế Trương Chi ôm mối tình ảo tưởng vô vọng, không thể vượt qua, phải tìm đến cái chết dưới đáy sâu. Nhưng thật đáng thương, hồn chàng còn nhập vào cây bạch đàn để ngày đêm lá reo vi vu thầm gọi Mỵ Nương ở chốn lầu tây kia. Cũng tình cờ, quan Thừa tướng mua gỗ bạch đàn tiện thành bộ ấm chén trà và cũng bi thương khi Mỵ Nương rót nước vào chén thì hình bóng Trương Chi chèo thuyền hiện lên khiến nàng thương cảm, giọt nước mắt rơi xuống chén, chiếc chén bỗng vỡ tan ra và hình bóng chàng Trương cũng vỡ tan theo. Thế là dù nuối tiếc, mối tình đơn phương của chàng Trương (vì Mỵ Nương tương tư tiếng hát chứ đâu tương tư Trương Chi) cuối cùng vẫn không thể có cách nào để vượt qua nổi sự ngăn cách nghiệt ngã của thành phần giai cấp…

Nhưng có lẽ câu chuyện Trương Chi - Mỵ Nương này mang một triết lý sâu xa có tính triết học mà ít người biết tới. Đâu phải ngẫu nhiên câu chuyện mở đầu nói ngay về cái mâu thuẫn gay gắt đến chết người ở ngay chính nhân vật Trương Chi: “người thì thậm xấu, hát thì thậm hay – nghĩa là mâu thuẫn giữa cái hình thức, dáng vẻ bên ngoài với cái nội dung, phẩm chất bên trong. Dáng vẻ xấu của Trương Chi được khái quát chung là “người thì thậm xấu”, phẩm chất của Trương Chi được nêu bật là “hát thì thậm hay”, tài năng nghệ thuật biểu thị cho tâm hồn nghệ sĩ cảm thụ âm nhạc với giọng ca bẩm sinh trời cho. Mâu thuẫn giữa hình thức và nội dung là một mâu thuẫn không dễ gì giải quyết được mặc dù người đời đã từng khẳng định “tốt gỗ hơn tốt nước sơn”. Song “tốt nước sơn” vẫn có cái giá của nó không thể phủ định sạch trơn được. Trong câu chuyện này, mâu thuẫn giữa hình thức và nội dung được hình tượng hóa qua hai nhân vật, Trương Chi có phẩm chất tài năng và còn lao động giởi nữa. Mỵ Nương không được nói rõ có tài năng gì để chàng Trương phải thán phục nhưng vẻ đẹp nhan sắc của cô gái thuộc tầng lớp thượng lưu đã là mê hồn chàng. Thế thôi, chàng say đắm sắc đẹp của nàng. Mê đắm sắc đẹp của cô gái đến mắc bệnh tương tư không phải là tội lỗi, đó là thói thường của các chàng trai. Hãy nhớ lại các truyện cổ dân gian, bọn vua chúa thường đề cao giáo lý phong kiến trong hôn nhân nào là: không môn đăng hộ đối, trinh tiết… nhưng, cũng chính chúng lại bắt ép hoặc cướp những cô gái đẹp về làm vợ dù các cô xuất thân nghèo hèn, con nhà nông dân lao động, thậm chí đã có chồng rồi, nghĩa là vẻ đẹp được đặt lên trên hết./.

 

;?>