• SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH BẮC GIANG - Đ/C SỐ 74 Đ. NGUYỄN THỊ LƯU - P. NGÔ QUYỀN - TP. BẮC GIANG
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 280627
  • Số người đang xem: 22
  • Trong ngày: 918
  • Trong tuần: 22981
  • Trong tháng: 280580
  • Trong năm: 280627
Trang chủ

Giá trị lịch sử và kiến trúc nghệ thuật chùa Bổ Đà

( 08:17 | 12/08/2016 ) Bản để inGửi bài này qua Email

 

Khu di tích chùa Bổ Đà,xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên bao gồm nhiều hạng mục công trình: Chùa Cao (Quán Âm tự), am Tam Đức, chùa Tứ Ân (Tứ Ân tự) cùng toạ lạc trên ngọn Phượng Hoàng của dãy núi Bổ Đà. Đây là khu di tích độc đáo có giá trị đặc biệt trên nhiều phương diện, nổi bật hơn cả là giá trị lịch sử và kiến trúc nghệ thuật.

 Giá trị lịch sử

Theo các nhà nghiên cứu, tên núi Bổ Đà hay tên chùa Bổ Đà bắt nguồn từ chữ Bu Đa là Phật mà dân gian quen gọi là Bụt. Chùa thờ Tam giáo (Phật giáo-Nho giáo-Lão giáo) kết hợp tín ngưỡng dân gian bản địa thờ Thạch Linh Thần tướng (thờ Đá). Ở đây mang dấu ấn tương đồng với quá trình du nhập đạo Phật vào vùng Dâu-Luy Lâu,Thuận Thành, Bắc Ninh. Hiện tượng Bụt mọc đã thấy xuất hiện ở nhiều nơi trong xứ Bắc. Đó là chùa Bụt Mọc hay chùa Dâu-(Linh Quang tự) ở xã Nội Hoàng, huyện Yên Dũng, chùa Bụt Mọc (Diên Ứng tự) ở xã Nam Sơn, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh hay chùa Dâu-Diên Ứng tự ở huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Các ngôi chùa trên đều có tín ngưỡng thờ Đá ban đầu sau trở thành Phật. Nét văn hoá này có phần tương đồng với chùa Bổ Đà ở huyện Việt Yên. Trong chùa Bổ Đà có thờ Thạch Linh Thần Tướng-một hình thức của tục thờ Đá rất cổ xưa. Qua sự tích và việc tôn thờ trong các di tích cho thấy, tất cả đều có tín ngưỡng bản địa ban đầu là tục thờ Đá sau đó hoà nhập với tôn giáo ngoại lai để tạo nên sự dung hoà thờ Phật, thờ Thánh mang bản sắc Việt. Như vậy,có thể thấy quá trình du nhập đạo Phật ở Bổ Đà theo mô tuýp đạo Phật du nhập vào vùng Dâu-Luy Lâu-Thuận Thành-Bắc Ninh từ thời Bắc thuộc và trở thành một trung tâm Phật giáo khá sớm ở vùng đất Bắc Giang.

Toàn cảnh chùa Bổ Đà. Ảnh: Ngọc Dưỡng

Từ câu chuyện nhuốm màu Phật Pháp thủa sơ khai vùng đất thờ Linh Thạch đến truyền thuyết núi Bổ Đà và quá trình hình thành chùa Quán Âm (thời Lý) nơi đức Quán Âm Bồ Tát ứng hiện cứu đời cho đến các mốc lịch sử cụ thể còn khắc trên văn bia lưu truyền ở chùa Bổ Đà cho thấy: Lịch sử Phật giáo chùa Bổ Đà liên tục phát triển và được khẳng định qua nhiều giai đoạn kế tiếp không có sự suy vi. Đó là những nét riêng biệt, độc đáo ở chùa Bổ Đà mà ít nơi có được.

Với số lượng 110 ngọn tháp, chùa Bổ Đà đứng đầu toàn quốc về Vườn Tháp lớn. Các toà tháp là nơi chứa tro cốt, xá lị của các nhà sư đã từng trụ trì tại chùa viên tịch tại đây. Phần lớn các toà tháp được xây dựng dưới thời hậu Lê (thế kỷ XVIII) và thời Nguyễn (thế kỷ XIX). Tháp được xây từ 2 tầng đến 3 tầng bằng gạch chỉ bản mỏng, vật liệu gắn kết là vôi, giấy bản và mật mía. Đã trải qua hàng trăm năm nhưng Vườn Tháp chùa Bổ Đà vẫn còn bảo lưu được nguyên vẹn.

Nét kiến trúc chùa Bổ Đà. Ảnh: Hương Quỳnh

Chùa có kho mộc bản kinh Phật của thiền phái Lâm tế cổ nhất Việt Nam: Với 1935 tấm mộc bản kinh Phật và 18 bộ kinh sách chính. Các tấm mộc bản chùa Bổ Đà phần lớn được san khắc vào thời Lê và thời Nguyễn (thế kỷ XVIII- XIX). Mộc bản có niên đại sớm nhất được san khắc vào năm 1740 và muộn nhất vào những năm đầu thế kỷ 20. Trải qua nhiều thế kỷ, bộ mộc bản hiện nay vẫn còn khá nguyên vẹn. Nội dung chính của những bản khắc ở đây là ba bộ kinh: “Lăng Nghiêm Chính Mạch, Yết Ma Hội bản, Nam Hải Ký Quý”. Bộ kinh khắc gỗ này đề cập đến những đặc trưng của Phật giáo Trung Hoa khi được truyền vào Việt Nam với 3 tông phái (Thiền tông, Tịnh Độ tông và Mật tông). Đây là kho di sản tư liệu quý giá không chỉ về việc nghiên cứu lịch sử Phật giáo mà còn có giá trị nghiên cứu trên nhiều phương diện: Văn hoá, ngôn ngữ, văn học, mỹ học….Bộ kinh Phật chùa Bổ Đà xứng đáng là một di vật Phật học đặc biệt để lại cho đời sau.

Chùa Bổ Đà còn sở hữu hệ thống tượng Phật cổ và nhiều di vật, cổ vật có giá trị: Trong chùa Bổ Đà còn bảo lưu trên 40 pho tượng Phật trong đó phần lớn là những pho tượng Phật cổ thời Lê (thế kỷ XVIII) và thời Nguyễn (thế kỷ XIX)… Hệ thống bát hương gốm, chum, lọ, vại gốm sành (trên 50 hiện vật). Hệ thống văn bia gồm 5 bia thời Nguyễn (thế kỷ 19), 01 chuông đồng thời Nguyễn đúc năm 1881... Mỗi một tài liệu, hiện vật đều có giá trị và ý nghĩa nội dung riêng phản ánh về từng giai đoạn lịch sử theo sự hình thành và phát triển của trung tâm Phật giáo Bổ Đà.

Kho tàng di sản Hán -Nôm lưu giữ ở chùa Bổ Đà rất phong phú về số lượng, đa dạng về loại hình. Ngoài kho mộc bản, những tấm bia đá, chuông đồng, nhà chùa còn tàng lưu hàng trăm cuốn kinh sách-luật-giới nhà Phật, các tạng kinh và cả một hệ thống hoành phi (đại tự) câu đối, nhiều tập thơ của tao nhân mặc khách vịnh cảnh Bổ Đà. Nội dung bao trùm của di sản Hán-Nôm chùa Bổ Đà là sự phản ánh triết lý sâu xa của tư tưởng Phật giáo, ngợi ca đức Phật từ bi để răn dạy người đời, lòng hảo tâm công đức của Phật tử bốn phương, ca ngợi cảnh trí Bổ Đà chốn bồng lai tiên cảnh.... Đặc biệt nhà chùa còn lưu giữ được bản chép tay về lịch sử chùa Bổ Đà của nhà văn Nguyên Hồng có giá trị nghiên cứu khoa học.

Chùa Bổ Đà là trung tâm sinh hoạt văn hoá tôn giáo, tín ngưỡng,nơi tổ chức lễ hội truyền thống của nhân dân địa phương. Hội lệ hằng năm được tổ chức ngày 15, 16, 17, 18 tháng Hai âm lịch với nhiều nghi lễ và các trò chơi dân gian mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc. Lễ hội chùa Bổ Đà là lễ hội lớn của vùng văn hoá núi Bổ Đà. Không gian lễ hội rộng bao trùm khắp các cửa đình, cửa chùa thuộc dãy Bổ Đà sơn. Lễ hội ở đây hội tụ đủ cả hai yếu tố thiết chế văn hoá tôn giáo và tín ngưỡng.

Giá trị kiến trúc nghệ thuật

Giá trị di sản cảnh quan thiên nhiên: Bốn bề phong cảnh lạ thay/Bồng lai kia cũng thế này mà thôi. Câu thơ của người xưa ca ngợi về danh thắng Bổ Đà sơn, nơi bồng lai tiên cảnh.Từ thủa sơ khai vùng đất này đã được thiên nhiên ưu đãi có nhiều ngọn núi chầu về có dòng sông Cầu bao bọc. Núi Bổ Đà nằm trong địa phận xã Tiên Sơn bao gồm ba ngọn cao nhất là Phượng Hoàng sơn, Kim Quy sơn và Mã Yên sơn cùng các núi nhỏ: Con Cóc, Bộ Không, Bộ Trắng, Bộ Kháng, Bộ Trê, Bộ Ngạch, Bộ Trúc,…. được gọi chung là núi Bổ Đà. Đỉnh ngọn Phượng Hoàng sơn, nơi di tích chùa Bổ Đà toạ lạc có thể bao quát toàn vùng phía Nam của huyện Việt Yên và một phần cảnh quan của tỉnh Bắc Ninh. Do núi đột khởi ở vùng đồng bằng nên cảnh quan rất đẹp. Dòng sông Cầu bao bọc phía sau, nhiều ngọn núi nhỏ nhấp nhô chầu về, cảnh quan sơn thuỷ giao hoà. Thật là nơi đắc địa. Trên các ngọn núi này, cây mọc um tùm, quanh năm tiếng thông reo vi vu; các khối đá nhỏ đan xen tồn tại trên núi và ẩn hiện trong các lớp đất, cỏ cây; các cánh đồng tồn tại cùng với dòng sông, dãy núi tạo ra một khung cảnh thiên nhiên thơ mộng đầy huyền thoại, huyền tích. Bổ Đà sơn còn được thiên nhiên ưu đãi với nhiều cây tự nhiên cổ thụ quý gắn liền với mái chùa từ hàng trăm năm nay như cây vối, thị, trám, sung, mít, tre…. lại có thảm thực vật phong phú, nhiều cây dược liệu thuốc quý như: sâm nam, ba kích, tía tô, trắc bách diệp, đơn đỏ…. cảnh quan thiên nhiên lý tưởng của dãy Bổ Đà sơn vừa có núi, có sông, địa thế phong thuỷ giao hoà, không gian u tịch mà thanh vắng là điều kiện lý tưởng để tu thiền học đạo.

Vườn tháp chùa Bổ Đà. Ảnh: Phương Thảo

Giá trị các công trình kiến trúc: Chùa Bổ Đà được thiết kế theo lối kiến trúc đặc biệt kiểu “nội thông ngoại bế” tạo vẻ u tịch, thanh vắng, không cốt ở sự nguy nga, tráng lệ mà quan tâm tới sự liên hoàn, thoáng đạt hướng tới sự thanh tịnh của cảnh giới nhà Phật.Theo lối kiến trúc này thì phần nền chùa được thiết kế theo hình chữ Hoắc, với 16 khối kiến trúc khác nhau và 92 gian lối thông nhau tạo thành hệ thống các tòa ngang dãy dọc liên hoàn cổ kính.Đây là một nét kiến trúc độc đáo, đặc sắc không chỉ riêng trong tỉnh Bắc Giang mà các ngôi chùa truyền thống ở miền Bắc Việt Nam cũng rất hiếm thấy.

Chùa Bổ Đà còn nổi tiếng bởi nét kiến trúc văn hoá tường đất cổ cách đây 200-300 năm. Từ cổng chùa cho tới các hạng mục xung quanh tường bao chùa chạy dài hàng trăm mét đều được trình bằng tường đất nâu trầm cổ kính. Kiến trúc tường đất tạo nét cổ nâu trầm, dân dã mà không tìm thấy ở nơi khác.Ngôi chùa có đến 8 lớp cổng ra vào nối các công trình với nhau. Một số cổng được xây dựng từ thời Nguyễn (thế kỷ XIX) còn mang nét kiến trúc cổ có giá trị nghiên cứu nghệ thuật.

Nghệ thuật chạm khắc trên các cấu kiện kiến trúc chùa Bổ Đà thể hiện rõ diễn biến kiến trúc Phật giáo qua từng thời kỳ. Tập trung các đề tài chạm khắc trên các đầu bẩy, đầu kẻ hiên chạm khắc rất sắc nét và tinh tế hình vân mây, đao mác ở cả hai mặt. Hệ thống các vì nách làm theo kiểu cốn mê và cốn chồng chạm dày đặc phủ kín cả hai mặt với nhiều đề tài: Hoa lá, vân mây, đao mác, hình tứ linh “Long, Ly, Quy, Phụng”, hình tứ quý: “Tùng, Trúc, Cúc, Mai”, hình linh thú… đường nét chạm sống động và có hồn. Trên các vì nóc cũng được chạm hình vân mây, hoa lá, con tiện, trái đào tiên…. rất sinh động mang rõ phong cách thời Lê (thế kỷ XVIII) và thời Nguyễn (thế kỷ XIX).

Hệ thống “thành rèm câu lơn” một diễn biến kiến trúc Huế thế kỷ XVIII-XIX được xuất hiện trên hạng mục toà Tiền tế nhà Tổ chùa Bổ Đà. Điều này cũng rất phù hợp với quá trình diễn biến du nhập phái Thiền Lâm Tế từ Đàng Trong ra miền Bắc trong đó có chùa Bổ Đà. Chùa Cao là ngôi chùa cổ nhất trong tất cả các hạng mục công trình chùa Bổ Đà mang kiểu kiến trúc hang động mái vòm. Quá trình tu sửa có cải tạo phần bờ mái trước mang nét kiến trúc thời Nguyễn (thế kỷ XIX) nhưng vẫn không làm mờ đi nét kiến trúc hang động cổ ban đầu. Khối kiến trúc am Tam Đức không có gì là lạ trong diễn biến kiến trúc truyền thống Việt. Nhưng lại là nét chấm phá hết sức độc đáo trong toàn bộ khối kiến trúc chùa Bổ Đà. Kiểu kiến trúc chồng diêm tạo cho hệ mái thêm thanh thoát và bay bổng.

Với giá trị lịch sử và kiến trúc nghệ thuật độc đáo, tiêu biểu, khu di tích chùa Bổ Đà đang được Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịchBắc Gianglập Hồ sơ trình Bộ Văn hoá, Thế thao và Du lịch đề nghị Thủ tướng Chính phủ xếp hạnglà di tích quốc gia đặc biệt.

Đồng Ngọc Dưỡng

 

 

;?>