• SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH BẮC GIANG - Đ/C SỐ 74 Đ. NGUYỄN THỊ LƯU - P. NGÔ QUYỀN - TP. BẮC GIANG
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 2335591
  • Số người đang xem: 11
  • Trong ngày: 1016
  • Trong tuần: 41156
  • Trong tháng: 351449
  • Trong năm: 1983368
Trang chủ

Thân Công Tài và tư tưởng hội nhập kinh tế thế kỷ 17

( 19:10 | 05/12/2010 ) Bản để inGửi bài này qua Email

Vân Hồng

            Có lẽ nhiều người không biết đến một vị quan trong triều vua Lê - chúa Trịnh đã có tư tưởng mở mang phát triển thương trường và hội nhập kinh tế, đó là Hán Quận công Thân Công Tài, một danh nhân lịch sử văn hoá tiêu biểu của dân tộc Việt Nam nửa sau thế kỷ 17.

Thân Công Tài tự là Phúc Khiêm, người xã Như Thiết, huyện Yên Dũng, phủ Lạng Giang, xứ Kinh Bắc xưa, nay là thôn Như Thiết, xã Hồng Thái, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Quê hương ông nằm ven đường thiên sứ. Có lẽ vì sớm được giao lưu tiếp xúc với các sứ bộ triều đình mà miền đất này sớm phát sinh nhiều anh kiệt làm rạng danh lịch sử nước nhà. Năm 1620 khi Thân Công Tài cất tiếng chào đời thì quanh vùng đã có vài chục vị trí thức Nho học kế tiếp đăng khoa. Đặc biệt, dòng họ Thân làng Yên Ninh có bốn cha con ông cháu thi đỗ đại khoa rồi ra làm quan đồng triều. Người khai mở truyền thống quý báu ấy chính là Thượng thư Tiến sĩ Thân Nhân Trung, tác giả của câu danh ngôn bất hủ: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mẽ mà đi lên, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn...”… (Hiện có một số nhà nghiên cứu đã và đang để tâm tìm hiểu về mối quan hệ giữa Thân Công Tài và dòng khoa bảng họ Thân để lý giải giả thiết cho rằng ông chính là hậu duệ của Tiến sĩ Thân Nhân Trung ?)

Cuộc đời và sự nghiệp của Thân Công Tài gắn trọn với 5 đời vua triều Lê Trung hưng trị vì đất nước. Đây là giai đoạn lịch sử đầy biến động, vua Lê chúa Trịnh và các thế lực phong kiến tranh giành quyền bính kịch liệt làm cho tình hình đất nước rối ren, đời sống nhân dân hết thảy đều cơ cực bần hàn.

Sinh trưởng rồi làm quan trong bối cảnh ấy, Thân Công Tài đã đem tài năng, trí tuệ hết lòng phò vua giúp chúa khôi phục sự nghiệp trung hưng. Với tài thao lược nên ông đã được giao trọng trách cầm quân đi dẹp giặc loạn ở các xứ Kinh Bắc, Thái Nguyên và Lạng Sơn. Mỗi lần dẹp yên giặc loạn là một lần ông được triều đình ban thưởng rồi thăng quan tiến chức. Năm 1667, khi 48 tuổi, ông đã được giao giữ chức Cai quan, kiêm Tri Thị Nội thư và được phong tước Hán Quận Công.

Được vua Lê, chúa Trịnh luôn tin yêu và trọng dụng nên đầu năm 1672 Thân Công Tài lại được thăng làm quan Đề đốc đạo Kinh Bắc (lúc này đạo Kinh Bắc gồm 3 xứ: Kinh Bắc, Thái Nguyên, Lạng Sơn), nghĩa là làm một vị tướng cai quản về mọi lĩnh vực ở một vùng rộng lớn phía Đông bắc Tổ quốc, đồng thời ông được đặc trách kiêm giữ chức Trấn thủ Lạng Sơn. Sử cũ nước nhà còn nhắc đến sự kiện cuối cùng của cuộc đời ông là đầu năm Quý Hợi (1683) Thân Công Tài cùng Nguyễn Tông Quai từ Kinh đô lên ải Nam Quan nhận tù binh nhà Mạc do nhà Thanh giao trả... Sau sự kiện ấy ông về quê nghỉ ngơi rồi mất tại nơi mình sinh ra. Khi ông mất rồi, cuối năm Quý Hợi (1683) triều đình truy xét công trạng đã ra tặng Hán Quận Công chức Đô đốc Đồng tri.

Thời gian làm quan Trấn thủ vùng biên thuỳ xứ Lạng, ngoài việc phòng thủ, củng cố Đoàn Thành, Hán Quận Công đã nhận thấy tầm quan trọng cũng như vị trí thuận lợi trong việc mở mang thương trường, giao lưu buôn bán hàng hoá giữa hai nước Việt - Trung, cho nên chính ông là người đề xướng, khởi công việc san đồi, bạt núi mở mang khu vực Đoàn Thành thêm 7 con đường, rồi lập nên 7 phố phường để cư dân buôn bán. Cũng thời gian ấy ông cùng Vũ Quận Công Vi Đức Thắng (người bản xứ) giúp dân mở ra phố chợ Kỳ Lừa của trấn lỵ Lạng Sơn thành trung tâm buôn bán sầm uất giữa 2 nước Việt Nam – Trung Quốc. Nhận định về vai trò của Thân Công Tài trong lịch sử, Giáo sư Vũ Ngọc Khánh đã cho rằng: “ Với cách nhìn đổi mới trong sự phát triển dân sinh, với những đóng góp cụ thể của ông trong việc mở mang thương trường xứ Lạng, Thân Công Tài xứng đáng được tôn vinh là nhà cải cách kinh tế của dân tộc ta dưới thời phong kiến.”

 Ở Lạng Sơn có di tích đền Tả Phủ do nhân dân thị xã Lạng Sơn cùng các phường buôn 13 tỉnh Trung Quốc xây dựng từ cuối thế kỷ 17 để tôn thờ, ghi nhớ công lao khai mở thương trường của Thân Công Tài. Hiện di tích vẫn còn toà tiền tế, bia đá, đồ thờ và câu đối cổ. Câu đối treo ở toà Tiền tế có nội dung phản ánh sâu sắc về công tích của ông trong việc khai mở thương trường xứ Lạng:

Lịch sử lưu danh truyền hậu thế

           Thương trường khai thị Hán Quận Công

Tấm bia đá tạo dựng năm Quý Hợi, niên hiệu Chính Hoà triều Lê (1683) ghi việc nhân dân hai nước khắc ghi công lao của ông. Bia có tiêu đề: “Tôn sư phụ bi”   (Bia ghi việc tôn thờ người thày, người cha) và mặt bên ghi trang trọng dòng chữ: Lưỡng quốc khách nhân (Người khách của hai nước). Lễ hội đền Tả Phủ được tổ chức vào mùa xuân tháng giêng cùng với hội đền Kỳ Cùng xứ Lạng. Lễ hội có quy mô rất lớn do chính quyền và nhân dân thị xã Lạng Sơn tổ chức, ngoài ra còn có sự tham gia của đại biểu nước Trung Hoa anh em.

Cùng tồn tại với đền Tả Phủ là chợ Kỳ Lừa, chợ có công đầu tạo dựng của Hán Quận Công, địa danh đã đi vào ca dao nước Việt sánh cùng các danh lam thắng cảnh khác của xứ Lạng:

Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa

Có Nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh

Phố phường ấy nay càng sầm uất nhộn nhịp hơn xưa và thành phố Lạng Sơn hôm nay có thêm một tên đường, tên phố mới đó là phố Thân Công Tài- dãy phố chạy giữa chợ Kỳ Lừa ở dốc Pò Càng (phường Hoàng Văn Thụ).

Là bề tôi trung tín của triều đình, là vị quan biết lo lắng cho sự phát triển dân sinh, Hán Quận Công còn là người con nặng nghĩa với quê hương. Những bổng lộc được triều đình ban thưởng ông đều chi dùng cho việc giúp dân xây dựng các công trình tín ngưỡng văn hoá của quê nhà. Ông đã bỏ 100 đám ruộng, 700 quan tiền giúp dân 6 xã tổng Mật Ninh, huyện Yên Dũng bấy giờ làm đất hương hoả và tu sửa Nghè Nếnh –làng Điêu Liễn (Đức Liễu ngày nay). Nhân dân làng Như  Thiết quê ông còn truyền kể: chính “cụ quan Hán” là người giúp dân xây dựng đình làng, lại có công truyền dạy nghề trồng dâu nuôi tằm...(Theo bia đá ở quê ông).

Hán Quận Công Thân Công Tài qua đời đã hơn 300 năm, nhưng hình ảnh của ông vẫn toả sáng trong lòng không chỉ người dân xứ Bắc, người dân nước Việt mà còn sống mãi trong lòng những người dân 13 tỉnh nước Trung Hoa láng giềng./.

 

;?>